Quỳ bà đã biết có một câu tục ngữ nói kẻ lừa bịp không sớm thì muộn thế nào cũng bị trừng trị vì việc lừa bịp hắn của hắn. Câu chuyện tôi sắp kể dựa trên câu tự ngữ dân gian đó, mà chân lý của nó có thể dễ dàng chứng minh bằng thực tế cũng như bằng lý Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ, cám ơn… mà chúng tôi có khi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn quả chuối là phải bẻ đôi. Ở Chuyện Mỗi Tuần: Ai Quấy Nhiễu Ai" Yến cằn nhằn tôi hoài về vụ điện thoại bị quấy nhiễu bởi người của mấy công ty gọi là "marketing", tức là những "salesmen" của mấy hãng điện thoại viễn liên chiêu hàng. Thật tình ngay chính tôi cũng thù chuyện này lắm, vì có khi đang ăn phải ngưng để trả lời điện Nàng là người đàn bà Nhật đầu tiên mà tôi được may mắn gần gũi. Hơn nữa, nàng có một thân hình tuyệt đẹp. Nàng đúng là người đàn bà lý tưởng mà tôi tôn thờ. Nàng đúng là thần tượng của tôi. Tình yêu đã đến với tôi và đến vời một mức độ thật cao. - Thưa bà, tôi đang nghe bà kể, đây. khi tôi bắt đầu nói là anh ta bắt đầu gõ. Còn ông thì không nhúc nhích gì hết ! Ông già phì cười, giải nghĩa chầm chậm : - Xin lỗi. Tôi phải nghe bà kể hết những gì bà muốn nói cho người con của bà, rồi tôi mới sắp xếp câu văn 747. "Thưa ông voi, tôi xin đảnh lễ ngài, vị độc hành, Hẳn như tôi lúc ấy Là con thực của nàng. 766. Sā maṃ annena pānena vatthena sayanena ca, Bổn Sanh Dạ-xoa Gumbiya. Những hễ kẻ nào dù yếu đuối, - Thưa bà lớn! Cũng là một việc nhỏ, bà chỉ mất một lời nói, mà được ba mươi vạn đồng, cậu ấy là cháu của ông, dẫu có thắng kiện được số tiền thường của tôi bà cũng chẳng được gì vào tiền đó, xin bà hoan hỷ nhận cho 3 viên ngọc này, thưa bà ngọc này Thưa bà Lan, cho dù chỉ còn 1 giờ chúng tôi vẫn cố gắng làm tròn trách nhiệm. Không lẽ còn 3 tháng là chúng ta có thể phủi tay, để mặc sai trái lộng hành. Chúng tôi đã hiểu và hiểu nhau rất rõ qua gần 2 năm làm việc chung. Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. Trần Kiêm Đoàn Nhận diện văn hóa của một đất nước hay của một vùng đất nào đó trên mặt địa cầu nầy thường có quá nhiều hình tượng và đề tài để nói Có thể đó là “biểu tượng nhân văn” do con người dựng lên hay nhờ có bàn tay con người gìn giữ và bảo vệ sản phẩm của thiên nhiên lâu dài mới còn tồn tại. Như tháp Eiffel của Pháp, Kim Tự Tháp ở Ai Cập, lá phong ở Canada hay con chuột túi Kanguru ở Úc. Hoặc có khi chỉ là một âm vị của ngôn ngữ như tiếng “Ok” của Mỹ, “Amen” của đạo Chúa và “Nam mô” của đạo Phật… Nhưng rốt lại, chỉ còn một nét nào đó nổi bật nhất mà chỉ cần nhìn hay nói ra là sẽ nhận được ngay câu trả lời tên nước, tên vùng. Chắc nhiều người còn nhớ ngày Hội Huế đầu tiên trên vùng đất thủ phủ tiểu bang California, thành phố Sacramento năm 1985, khi nhà thơ Thành Đạt đưa giải thưởng “1000 hột sen Tịnh Tâm” rất quý hiếm vào thời điểm nầy cho ai chọn “một cái gì” bình dân và đơn giản nhất mà ai cũng biết cũng quen dùng tượng trưng cho Huế. Người ta đã đưa ra nhiều hình ảnh, tiếng nói làm “biểu tượng” cho Huế như chùa Thiên Mụ, Cầu Trường Tiền, Cửa Ngọ Môn, núi Ngự Bình; hoặc tiếng nói “Mô, Tê, Răng, Rứa”… Nhưng kết quả thật thú vị vì người trúng giải là chị Tịnh Như đã chọn tiếng “Dạ” làm biểu trưng cho Huế. Nhiều người trong cuộc Hội Huế không đồng ý vì tiếng “dạ” là tiếng Việt mà người dân trong cả ba miền Bắc Trung Nam đều dùng chứ không riêng gì ở Huế. Tuy nhiên chị Tịnh Như đã lý giải một cách đầy thuyết phục rằng “Tiếng Dạ’ là vũ khí văn hóa, nhân văn đặc thù của Huế vì nó được dùng như một phương tiện diễn đạt cảm xúc và ý nghĩ từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu, từ phục tùng đến phản kháng, từ yêu thương đến thách đố, khước từ…” Trường hợp điển hình - Hỏi Con thích bún bò Mệ Chéo không? - Đáp Dạ, con thích lắm! Tiếng “dạ” đồng ý, khẳng định - Hỏi Anh nhớ em. - Đáp Dạ, em cũng nhớ anh lắm tiếng “dạ” đồng tình, cảm xúc - Hỏi Con đi với thằng Nam cả canh buổi chừ mới về phải không? - Đáp Dạ ạ… ă… ắ…? Tiếng dạ uốn lượn và nhấc lên cuối câu để tỏ bày câu trả lời vừa xác định vừa nghi vấn như nói rằng “Con có đi với anh ấy mà có can chi không?” - Hỏi Con khoan đi, ở nhà rửa chén bát xong rồi đi” - Đáp Dạ a… à… ạ…! Tiếng dạ kéo dài và rớt xuống nặng nế cuối câu để diễn tả sự vâng lời nhưng miễn cưỡng, bực bội - Hỏi Con có nghe tin đồn đó không? - Đáp Dạ a…á? Tiếng dạ như một câu hỏi lại Trong nhiều hoàn cảnh và địa phương khác nhau, tiếng “dạ” của Huế còn được sử dụng một cách tinh tế, diễn cảm, bất ngờ nhưng lại có tác dụng như cả một lời diễn đạt và giải thích khéo léo bằng âm thanh qua tiếng nói. Khi tiếng “thưa” đi kèm sau tiếng “dạ” thành “dạ thưa” là lời khai mở cho câu nói trang trọng, lễ độ; nhưng cũng có khi ngại ngùng và xa cách. Tiếng “dạ thưa” dùng phổ thông trong đại chúng “Dạ thưa bà con, tui xin có ý kiến…” là một cách bày tỏ sự tôn trọng, lễ độ. Nhưng tiếng “dạ thưa” lọt qua cửa ngõ tình tự “Dạ thưa, em còn nhỏ; thương rồi mà chưa biết yêu!” thì có cơ trở thành… bùa mê ?! Trong bối cảnh văn chương nghệ thuật Việt Nam, những trao đổi khách quan thật khó. Anh nhà văn thì cho rằng “ Thi sĩ là nhà văn không thành!”. Đối lại, những nhà thơ thì lại cho rằng “Văn sĩ là nhà thơ không thành!” Nhưng con người và cách nói chỉ là phương tiện; trong khi cứu cánh tinh hoa của nghệ thuật chính là tác phẩm. Những sáng tác văn học nghệ thuật chính là tụ điểm của nghệ thuật, nơi đó, cả nhà thơ, nhà văn và muôn nhà nghệ sĩ gặp nhau. Như trong phương ngữ Huế, tiếng “dạ, thưa” là một tụ điểm của nghệ thuật và đời thường đã khiến cho cả người trong cuộc và kẻ bên ngoài đều muốn nghe, muốn nhận, muốn còn và muốn được. Không ai có thể từ chối lắng nghe với niềm cảm khái trước điệu nói dịu dàng của người con gái Huế hầu như trong mọi tình huống và hoàn cảnh; dẫu đó là sự lễ độ, bày tỏ, câu hỏi, lời mời hay khước từ thì tiếng “Dạ… thưa” đều được nói lên một cách tự nhiên, hòa quyện trong từng câu nói, không điệu đà sắp xếp nhưng tác dụng của sự lễ độ, khiêm cung, gọi mời, xác quyết “Dạ thưa dì, mời dì ngồi chơi. Dạ con không biết mạ con đi mô…” hay “Dạ con học lớp 10…”, “ Dạ thưa anh, anh tên chi?”, “Dạ mời anh ghé chơi” và cả “Dạ em không thích” và rất nhiều “dạ…thưa” hòa quyện trong từng câu nói. Người ngoài xứ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, viếng Huế rồi ra đi, ai cũng mang theo trong hành trang nghệ thuật của mình tiếng “Dạ… thưa” của Huế. Trác tuyệt mà tửng tửng như Bùi Giáng đã đưa tiếng dạ thưa của Huế thành một suy niệm “như như tự tại” Dạ thưa xứ Huế bây giờ, Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương. Hoặc như Xuân Hoàng đã nâng tiếng dạ thưa của người con gái Huế thành “tứ biểu tượng” của Huế là Mưa Huế, chùa Huế, sông Hương và tiếng dạ thưa của người con gái “Ở đây dằng dặc những ngày mưa Bông sứ trầm tư lặng cổng chùa Có một dòng sông trôi chẳng nỡ Có người con gái “dạ, xin thưa…” Nét Huế – Xuân Hoàng Và, Huỳnh Văn Dung đã phóng chiếu tiếng dạ thưa ngọt lịm thành nỗi đam mê sương khói Giữ chút gì rất Huế mặn mà Dạ thưa, ngọt lịm ai mê say Em đi gót nhẹ xanh hồn cỏ Và hơi thở mềm sương khói bay Rất Huế – Huỳnh Văn Dung Thời gian trôi qua, không gian thay đổi và con người chuyển biến theo hoàn cảnh. Nhưng chỉ riêng tiếng “Dạ… thưa” của Huế là không biến tướng, thay hình đổi dạng. Tiếng Huế có hai kiểu cách bày tỏ Giọng Dinh và giọng Quê. “Giọng dinh” là cách nói và phát âm của những người Huế ở thành phố hay là những người Huế được tiếp cận nhiều với bài bản và sách vở nên giọng nói nhẹ, tiếng dùng gần với tiêu chuẩn quy ước. Trong khi đó thì “giọng quê” phát âm nặng với nhiều từ ngữ không có trong sách báo, từ điển. Ví dụ. Giọng dinh “Hai vợ chồng đó gây nhau, ra giữa sân đánh nhau!” Giọng quê “Hai cấy dôn nớ ngầy dau, ra trửa cươi đập chắc!” Dẫn chứng này có tính cách hơi thậm xưng nhưng minh họa được tính cách đa dạng của phương ngữ Huế. Thế nhưng, trường hợp tiếng “dạ… thưa” thì đặc biệt khắp mọi vùng nông thôn và thành thị Huế đều biểu hiện như nhau. Những người xa Huế hơn ba chục năm khi trở về thăm Huế, có thể thấy chiếc áo dài của những “o”, những “thím”, những “dì” buôn gánh bán bưng ít đi, nhưng tiếng “dạ…thưa” thì vẫn còn nguyên mượt mà trên từng cửa miệng. Khách phương xa về thăm Huế, tản bộ trên các vùng quê, thường sẽ rất ngạc nhiên và thú vị khi nghe và thấy các cháu học sinh trường làng, cúi đầu cung kính chào “Dạ thưa ôông!” mà không cần biết quen hay lạ. Ngôn ngữ là một phương tiện đặc thù của từng nhóm người và xã hội. Tuy tiếng Việt “dạ…thưa” đâu cũng có nhưng với âm điệu giọng Huế nó trở thành trầm lắng và khiêm nhã một cách tự nhiên không mang tính nghi thức hay khách sáo. Đặc biệt, thế hệ trẻ gia đình gốc Huế sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, nếu còn nói được tiếng Việt thì tiếng “dạ…thưa” vẫn còn được kế thừa như một gia sản đầy hương hoa chưa nỡ bị đánh mất hay đi vào quên lãng. Comments are closed. Nét trang đài xứ HuếTiếng “dạ”, tiếng “thưa” từ lâu đã là một nét văn hóa rất đặc trưng và duyên dáng của người Việt Nam. Với đặc thù nhiều vùng miền với âm sắc giọng nói khác nhau, tiếng dạ thưa mỗi vùng ở mảnh đất hình chữ S đều có mang một sắc thái thật dễ chịu và đẹp đẽ. Có vùng thì nghe thật trang nhã, thanh lịch; có vùng nghe đến ngọt lịm tâm can; có vùng lại chân thật, đáng yêu và mềm mại đi vào lòng người. Chẳng phải tự nhiên mà trẻ em từ khi mới bi bô đã phải học nói “dạ” khi mẹ gọi, lớn lên một chút thì phải biết “thưa bà con đi học”,“thưa bố con mới về”... Ra ngoài gặp người lớn thì phải chào hỏi lễ phép, được hỏi chuyện thì cũng phải dạ thưa ở đầu môi. Thế nhưng chẳng biết từ bao giờ, người ta đang dần thu gọn ngôn ngữ truyền thống đẹp đẽ, mở rộng ngôn ngữ hiện đại cộc lốc, kỳ dị. Những cô cậu học sinh đến trường xưng với nhau bằng bà bà, ông ông; những người yêu nhau không gọi nhau anh, em mà tự xưng vợ vợ, chồng chồng. Ấy vậy mà khi thành vợ, thành chồng, các cặp vợ chồng lại nói với nhau trống không, chẳng có tôn ti trật tự nào cả.“Người thanh tiếng nói cũng thanh/ Chuông kêu chuông đánh bên thành cũng kêu” Ảnh minh họaTôi có cô bạn lấy chồng hơn cô bốn tuổi, đang đi ăn cùng chúng tôi thì chồng cô ấy gọi điện. Nhìn hiển thị số điện thoại của chồng, cô nhấc máy đáp chỏn lỏn “Gì đấy?”. Khi anh chồng hỏi đi bao giờ thì về, cô trả lời “Chắc cũng phải sau 10 giờ…. rồi, thế nhé!” và cúp máy. Tôi chợt nhớ tới hai bác mình, dù bằng tuổi nhau, lấy nhau do mai mối từ thời xưa, nhưng 40 năm qua rồi, tuyệt nhiên tôi chưa bao giờ nghe thấy hai bác nói với nhau trống không một lần nào, kể cả những lúc tranh cãi, giận hờn. Bác trai khi bắt máy bác gái gọi thì sẽ nói “Ừ anh đây”, và kết thúc luôn là “Anh dập máy nhé!”, đôi khi không vội, bác sẽ nói “Em dập máy trước đi!” để bác gái đỡ cảm thấy hụt hẫng khi nghe tiếng cúp máy khô khốc từ đầu dây của mình. Chỉ là lời ăn tiếng nói, nhưng nó cũng là thể hiện sự tôn trọng mối quan hệ, tôn trọng đối phương. Khi ta cho người khác thấy được sự tôn trọng thì họ cũng sẽ tôn trọng lại ta. Tôn trọng lẫn nhau chính là nền tảng của mọi mối quan hệ, dù có thân thiết quấn quýt, chia ngọt sẻ bùi như vợ chồng thì vẫn phải có giới hạn và sự kính nhường nhất định. TTO - Trong giới khoa học, "sư phụ" Vương Ngọc Chính của mình, sống gần cả đời ở Sài Gòn, dù đã U80, nhưng mỗi lần nói chuyện với bạn bè cùng trang lứa, vẫn thường dùng từ đệm dạ, thưa rất lịch sự, sang trọng. Cà phê vỉa hè Lê Lợi xưa - Ảnh LIFEMột người bạn đồng môn của "sư phụ", GS Nguyễn Kim Phi Phụng bên Khoa học tự nhiên, cựu nữ sinh trung học Nguyễn Bá Tòng, khi nói chuyện cũng vậy, cũng thường dùng những tiếng dạ, thưa. Không chỉ dạ, thưa khi nói chuyện với người lớn tuổi hay bạn bè cùng trang lứa, mà khi nói chuyện với những người nhỏ tuổi hơn, mình vẫn nghe những tiếng dạ, thưa như vậy của Bách khoa, ngoài những giảng viên ngày cũ, mình vẫn thấy phong cách này ở những nhân viên. Chỗ phòng đào tạo, có chị Như Hằng, mỗi lần nói chuyện đều "thưa có", "thưa không", "dạ", dù các thầy cô đang nói chuyện đều nhỏ tuổi hơn chị. Phòng KHCN còn có chị Mai Loan, cũng một dạ hai thưa với các thầy cô, dù người nói chuyện nhỏ tuổi hơn chị. Có một chị lao công thường quét lá ở gần thư viện, sáng nào cũng gặp, mình chào chị trước, lúc nào cũng nhận lại câu chào bắt đầu bằng tiếng "dạ", trong khi mình nhỏ tuổi hơn chị và chào chị… cộc lốc. Trong giới văn nghệ sĩ miền Nam, một trong những nghệ sĩ nổi tiếng nhất của sân khấu cải lương là "sầu nữ" Út Bạch Lan, xem các chương trình trò chuyện trên truyền hình, vẫn thấy bà dùng những tiếng "dạ, thưa" rất lịch sự, dù có khi người phỏng vấn chỉ đáng tuổi con cháu của bà. Không chỉ trên truyền hình, ở ngoài đời thật, có lần mình cũng nghe bà dạ, thưa như vậy khi nói chuyện. Một nghệ sĩ nổi tiếng khác là ca sĩ Hoàng Oanh, cựu nữ sinh Gia Long, khi trả lời phỏng vấn báo chí, bà vẫn "dạ thưa chị" hay "dạ thưa anh"… Mà cũng không chỉ trong trường đại học, giữa Sài Gòn, mình vẫn có dịp nghe những người bình dân dạ, thưa theo phong cách lịch sự như vậy. Có lần ghé vào một tiệm tạp hóa ở quận 1, cái tiệm cũ còn hơn cả người yêu cũ nữa. Chị chủ quán có lẽ cũng đã U60, nhưng vẫn một dạ hai thưa với khách phải nói thêm cho rõ, người ta dạ, thưa theo kiểu rất tự nhiên, chứ không phải dạ, thưa theo kiểu khúm núm xun xoe để cố lấy lòng người đối diện hay khi nhờ vả chuyện gì đó… Ngẩn ngơ với những tiếng dạ, thưa kiểu Sài Gòn dễ thương như vậy… Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao Chấm điểm cán bộ qua thái độ, cung cách làm việc và phục vụ người dân, theo tôi là một hình thức giám sát cần có để phân loại, đánh giá cán bộ. Từ đó người dân sẽ được phục vụ tốt hơn, chu đáo, tận tình hơn. Còn nhớ cách nay khoảng ba năm, tôi có lên phường hỏi về việc làm giấy khai sinh cho đứa cháu họ. Cha mẹ của cháu chưa đăng ký kết hôn và chỉ đăng ký tạm trú ở nhà tôi. Sau khi nghe tôi trình bày, cô cán bộ tư pháp lắc đầu, nói rất vội về thủ tục, liên quan đến điều mấy, nghị định nào đó… đến mức tôi không kịp nghe và hiểu gì cả. Khi tôi hỏi lại, cô ấy tiếp tục “tua” một lượt nhưng với thái độ rất khó chịu, cứ như là tôi đang làm gì đó khiến cô ấy sắp nổi quạu. Nói xong cô ấy quay qua làm việc với người khác, mặc cho tôi đứng đó. Tôi về chỗ ngồi, tự nhủ muốn được việc thì phải ráng nhịn, phải kiên nhẫn và… “lì”. Chờ đợi đến lúc vắng người, tôi tiếp tục đến chỗ cô ấy và hỏi lại. Lần này cô ấy quạu thực sự “Tôi nói đi nói lại mà bác chưa hiểu sao? Thôi bác bảo họ về quê làm giấy đi cho lẹ, khỏi chứng nhận rắc rối”. Lát sau, có lẽ thấy tôi “tồi tội” sao đó mà cô ấy lấy giấy, ghi một loạt cái gạch đầu dòng rồi đưa tôi, bảo “Đây, bác về chuẩn bị mấy giấy này rồi đi làm khai sinh. Có vậy thôi mà nói hoài, nói hoài bác không hiểu”. Hóa ra giấy tờ có bao nhiêu đâu, thủ tục cũng chẳng có nhiều. Nhưng nếu ngay từ đầu cô ấy nói chầm chậm, ngắn gọn cho tôi hiểu thì đỡ biết bao! Vẫn biết rằng số lượng người dân đến làm thủ tục ngày mỗi đông, trình độ, hiểu biết lại khác nhau; cán bộ lắm khi cũng quá tải, mệt mỏi vì công việc chất chồng. Nhưng chúng tôi không muốn mỗi khi phải liên hệ công việc là mỗi lần phải lo lắng toát mồ hôi, rồi ức chế bởi cung cách làm việc nhiều khi hách dịch, cửa quyền của một số cán bộ. Tôi mong việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, cư xử lịch sự, đúng mực với người dân cần phải là việc thường xuyên mỗi ngày, tạo nên phong cách làm việc lịch sự, gần gũi, tận tình của cán bộ khi tiếp xúc với người dân. Tránh rơi vào tình trạng khi có đợt thi đua, có phong trào hay “bị” chấm điểm, “bị” camera quan sát thì “gồng mình” dạ, thưa nhã nhặn, hết thi đua thì đâu lại vào đó. Và để làm tốt việc này, mỗi cán bộ hãy đặt mình vào vai trò của người dân khi đến liên hệ công việc. NGUYỄN THỊ H. Quận 2, Dịu dàng em nói dạ thưa Đôi môi lễ độ nghìn xưa vọng về Trích thơ “Dạ thưa” – Lê Minh Quốc Tiếng “dạ”, tiếng “thưa” từ lâu đã là một nét văn hóa rất đặc trưng và duyên dáng của người Việt Nam. Với đặc thù nhiều vùng miền với âm sắc giọng nói khác nhau, lên bổng xuống trầm khác nhau, tiếng dạ thưa mỗi vùng ở mảnh đất hình chữ S đều có mang một sắc thái thật dễ chịu và đẹp đẽ. Có vùng thì nghe sao thật trang nhã, thanh lịch, có vùng nghe đến ngọt lịm cả tâm can, có vùng lại chân thật, đáng yêu và mềm mại đi vào lòng người. Ở đâu, tiếng dạ, tiếng thưa cũng đã trở thành một thanh âm lịch thiệp mà gần gũi, ngọt ngào mà tiết chế không vồ vập. Hai tiếng dạ thưa ấy có thể vẽ nên dáng vóc một cô gái ngoan hiền, thùy mị, lễ độ và nhẹ nhàng. Tất nhiên không chỉ phụ nữ, đàn ông cũng cần nói dạ thưa để thể hiện sự kính trọng và lịch thiệp của người quân tử biết trọng lễ. Chẳng phải tự nhiên mà trẻ em từ khi mới bi bô, đã phải học nói “dạ” khi mẹ gọi, lớn lên một chút thì phải biết “thưa bà con đi học”, “thưa bố con mới về”... Ra ngoài gặp người ngoài, được hỏi chuyện thì cũng phải dạ thưa ở đầu môi. Thiếu tiếng dạ, vâng, thưa gửi, thiếu cả danh xưng thì sẽ được gọi là nói trống không, là vô văn hóa, vô học. Vẻ đẹp của một cô gái không chỉ từ vẻ ngoài hấp dẫn mà còn từ lời ăn tiếng nói duyên dáng, nhẹ nhàng Ảnh Unsplash. Thế nhưng chẳng biết từ bao giờ, người ta đang dần thu gọn ngôn ngữ truyền thống đẹp đẽ, mở rộng ngôn ngữ hiện đại cộc lốc kỳ dị. Có người nói rằng “Lời nói là y phục của tư tưởng”, nếu ví von vậy thì ngày nay, y phục đó cũng như mốt thời trang ngắn ngủn, hở hang, phơi bày da thịt. Y phục từ đó cũng phơi bày tư tưởng ngắn ngủn, thiếu nội hàm. Những người yêu nhau không gọi nhau anh, em mà gọi nhau vợ vợ, chồng chồng, nghe thật bình đẳng, ngang hàng phải lứa. Các cặp vợ chồng thì nói trống không, chẳng có tôn ti trật tự. Cái tôn, ti ở đây không phải chỉ là cao thấp, tỏ ý so sánh, phân chia, khinh thường người này, đề cao người kia. Mà là thể hiện những vị trí khác nhau sẽ tương ứng với đặc điểm, nhiệm vụ, chức phận khác nhau trong một gia đình. Câu nói “Nam tôn nữ ti” bắt nguồn từ “Thiên Tôn Địa Ti” là để diễn tả ý nghĩa “Trời ở trên Đất ở dưới, Trời cao Đất thấp”, là một cách dùng, để miêu tả trạng thái tự nhiên, là điều tất yếu của tự nhiên. Cũng như hai mặt của một bàn tay, sao có thể nói cái nào quan trọng, cao sang hơn cái nào. Thiếu một trong hai thì đâu thành bàn tay. Trong gia đình cũng vậy, với đặc điểm của mỗi phái, thuận theo tự nhiên mà hành xử, đảm đương chức phận cho phù hợp. Âm không thể như dương mà dương cũng chẳng thể như âm. Người chồng tự cường, mạnh mẽ, chính trực. Người vợ bao dung, nhã nhặn khiêm hòa. Vợ chồng xưng hô cho đúng vai vế, thưa gửi, hành xử theo lễ, giữ cho nhau sự trân quý và kính trọng. Đầu tiên vẫn phải là từ ngôn ngữ giao tiếp. Tôi có cô bạn lấy chồng hơn cô bốn tuổi, đang đi ăn cùng chúng tôi thì chồng cô ấy gọi điện. Nhìn hiển thị số điện thoại, biết chồng gọi, cô nhấc máy đáp chỏn lỏn “Gì đấy?”. Chắc anh chồng hỏi bao giờ thì về, cô trả lời rằng “chắc cũng phải sau 10 giờ…. rồi, thế nhé!” và cúp máy. Tôi chợt nhớ tới hai bác mình, dù bằng tuổi nhau, lấy nhau do mai mối từ thời xưa, nhưng 40 năm qua rồi, tuyệt nhiên tôi chưa bao giờ nghe thấy hai bác nói với nhau trống không một lần nào, kể cả những lúc tranh cãi, giận hờn. Bác trai khi bắt máy bác gái gọi thì sẽ nói “Ừ anh đây”, và kết thúc luôn là “Anh dập máy nhé!”, đôi khi không vội, bác sẽ nói “Em dập máy trước đi!” để bác gái đỡ cảm thấy hụt hẫng khi nghe tiếng cúp máy khô khốc từ đầu dây của mình. Tiếng dạ thưa dịu dàng làm nên nét đẹp người phụ nữ Ảnh Unsplash. Chỉ là lời ăn tiếng nói, nhưng nó cũng là thể hiện sự tôn trọng mối quan hệ, tôn trọng đối phương. Và khi ta cho người khác thấy được sự tôn trọng thì họ vô thức cũng sẽ tôn trọng lại ta. Tôn trọng lẫn nhau chính là nền tảng của mọi mối quan hệ, dù có thân thiết quấn quít, chia ngọt sẻ bùi như vợ chồng thì vẫn phải có giới hạn và sự kính nhường nhất định. Hai từ thân thương “anh, em” vừa gần gũi vừa thể hiện cái tôn, cái ti của một chỉnh thể gia đình, là hai mặt của một bàn tay. Gia đình là lạp tử của xã hội, nếu ngay từ thành phần nhỏ bé nhất đó, mọi thứ đều hỗn độn không có trật tự, thì xã hội sao có thể không loạn. Người xưa nói “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nếu muốn làm việc đại sự như bình thiên hạ thì vẫn phải bắt nguồn từ việc tu dưỡng bản thân, duy trì gia đình nề nếp. Tu thân ở đây chẳng phải là từ những điều nhỏ nhặt nhất, từ lời ăn tiếng nói, nếp đứng, nếp ngồi, rồi mới đến học hành mở mang đầu óc, từ bỏ thói hư tật xấu, làm việc tốt. Gia đình nề nếp chẳng phải gốc rễ vẫn là có trật tự, gia phong. Một núi không thể có hai hổ, một nước không thể có hai vua, một nhà cũng không thể có hai bầu trời mà chẳng ai chịu làm mặt đất. Người xưa nói vậy không phải vì họ coi trọng địa vị mà bởi trong việc điều hành mọi cơ cấu, tổ chức, việc làm sao để có được nhiều ý kiến xuất sắc nhất không quan trọng bằng việc đồng lòng thực hiện theo một ý đã được đưa ra. Trong gia đình cũng vậy, ai cũng là trụ cột, người này muốn thế này, người kia lại muốn thế kia, tranh cãi, giằng co, cuối cùng lại chẳng làm được việc gì mà lại nảy sinh mâu thuẫn, bất hòa. Nếu người vợ chỉ đảm đương việc nào đó, người chồng đảm đương những việc còn lại, không những không chồng chéo mất thời gian tranh luận mà lại càng làm tăng trách nhiệm và sự nỗ lực của mỗi người. Và sự trật tự trong gia đình đó thể hiện ngay ở lời ăn tiếng nói với nhau. Anh gọi thì em dạ, em gọi thì anh thưa, thuận hòa như nước chảy, phong thủy của gia đình chính là ở đây chứ đâu. Vợ chồng cần chi khách sáo! Đó là lý lẽ của nhiều bạn trẻ sau một thời gian yêu nhau anh em ngọt xớt đến khi lấy nhau lại mày tao chí tớ, nghe cho có vẻ bình đẳng và không câu nệ, không khoảng cách. Hai đứa bạn tôi học chung từ hồi cấp 3 lấy nhau, hồi mới “cưa cẩm” thì kêu nhau “tớ, ấy”, khi lấy nhau về không quen, cho rằng bằng tuổi thì sao phải gọi “anh, em”, như thế “hóa ra tao ít tuổi hơn nó à?” – cô bạn tôi giải thích. Lúc đầu họ gọi nhau bằng tên như bạn bè, vợ chồng trẻ nào thì cũng có lúc cãi vã, những lúc như thế gọi tên nhau e rằng không thể hiện được hết cái uất ức, nộ khí đang ngùn ngụt nên họ gọi nhau là “mày, tao”. Sau thành không ai chịu ai, cứ xưng mày tao vậy cho đến khi sinh con và tất nhiên, chẳng có tiếng “vâng ạ, dạ, thưa” nào vang lên trong ngôi nhà của họ. Vợ chồng nói năng có lễ nghĩa với nhau chính là phong thủy của gia đình. Ảnh Unsplash Tôi không thể tưởng tượng được, đứa trẻ bé bỏng ngây thơ đó từ khi sinh ra đã thấy bố mẹ nói chuyện với nhau như vậy thì có hiểu được sự ngọt ngào, thân thương của những từ tiếng Việt hết sức phổ thông một thời. Chỉ thấy đến khi biết nói và đi học, bé toàn gọi các bạn ở trường là “mày”, xưng “tao”. Nói chuyện với ông bà cũng toàn theo cái kiểu “nước, khát quá, cho cốc nước đi!”, hay khi được hỏi thì trả lời “ăn rồi”, “đến trường vui!”… Có người cho rằng, chẳng quan trọng gì cái cách vợ chồng nói với nhau, miễn là chân thành. Nhưng chẳng phải sự chân thành phải được bảy tỏ ra bằng sự tôn trọng hay sao, nếu không nó cũng chỉ là biểu hiện của lòng ích kỷ. “Tôi yêu cô, tôi giữ trong lòng là được rồi, hàng ngày đi làm kiếm tiền, mua quà mua đồ về cho vợ con, sao phải khách khí”. Thế nhưng đó là anh mới chỉ nghĩ từ phía của mình, dựa trên mong mỏi và cảm xúc của mình, đâu có nghĩ cho người vợ đâu. Có thể vợ cũng chẳng cần, nhưng trách nhiệm của chúng ta đều phải là biểu hiện cho người khác thấy sự tôn trọng, đó là văn hóa tối thiểu. Không thể phủ nhận rằng, nhìn bề ngoài, cách xưng hô “mày – tao”,“tôi – cô” hay nói trống không là dấu hiệu của một mối quan hệ đã xuống cấp. Người ta dễ dàng đánh giá như vậy mà chẳng cần biết nội tình gia đình bạn ra sao. Bạn thử nghĩ mà xem, kể cả những gã đàn ông nói năng với vợ thô bỉ nhất, những cô vợ chua ngoa nhất, khi đi với “bồ” bao giờ cũng “anh anh em em” ngọt như mía lùi là gì. Không chỉ giữa những người thân với nhau, chúng ta đang dần bỏ đi những lời mà bản thân cho là khách khí, rườm rà. Ngoài xã hội, khi gặp người không quen biết, đáng lẽ cái sự lịch sự, khách khí nó phải cao hơn với người nhà. Thế nhưng không ít lần tôi chứng kiến người ta vào cửa hàng mua đồ mà nói với nhân viên kiểu như “cái này giá bao nhiêu?”, “Có cỡ to hơn không?”, “Còn rau thơm không?”... Không những khách hàng vênh vang, chao chát vì nghĩ mình ở vị thế là “Thượng đế”, mà người bán hàng cũng không kém phần “Không mua thì đừng có bới lên thế!”, “Nhà này chỉ có hàng thế thôi, không thích thì đi chỗ khác”... Người ta đối với nhau cứ như có thù hằn, hiềm khích gì từ bao đời. Thật kỳ lạ! Chẳng cần có công trình khoa học nào nghiên cứu và làm rõ, chúng ta cũng biết tác động của lời nói tới tâm trạng, cảm nhận của người nghe. Thậm chí trong ngoại giao, thương lượng, thuyết trình thì nó có thể đóng một vai trò sống còn. Bởi lời nói là y phục của tư tưởng, nó cho người khác nhìn thấu bạn, cảm nhận về bạn và ra quyết định xem có nên tin tưởng và tôn trọng bạn hay không. Giống như câu chuyện cổ tích của Perrault về hai chị em xinh đẹp. Cô chị tốt bụng, hảo tâm nên bà Tiên ban cho phép màu, mỗi lần mở miệng nói chuyện thì sẽ nở hoa, phun ngọc. Cô em thiếu lễ độ nên mỗi khi mở miệng thì sẽ nhả ra rắn và cóc. Đến người mẹ của hai cô gái còn không thể ở bên cô em vì không chịu nổi rắn rết, cóc nhái do cô em nhả ra. Thế thì bạn, bạn có muốn ở cạnh một người ăn nói cộc cằn, chỏn lọn, ác mồm ác miệng hay không? Bạn không thể, thì người khác cũng không thể ở bên nếu bạn cũng giống như vậy. Thuần Dương

dạ thưa bà tôi là kẻ